SieuThiBitcoin.comHiểu Bitcoin tận gốc — từ năm 2014
Thuật ngữ Bitcoin

Thuật ngữ đơn vị và số đo trong Bitcoin: sat, vbyte, độ cao khối, EH/s

Đọc tài liệu Bitcoin cần nắm vài đơn vị: satoshi là phần nhỏ nhất của một BTC, vbyte đo kích thước giao dịch để tính phí, độ cao khối là số thứ tự khối, xác nhận là số khối chồng lên giao dịch, còn EH/s đo sức tính toán toàn mạng.

Bàn làm việc với thước kẻ, compa và sổ tay mở trang trắng, ánh sáng dịu buổi sáng

Khi đọc trình duyệt khối, ghi chú phát hành hay bài kỹ thuật về Bitcoin, bạn sẽ gặp nhiều đơn vị đo khác nhau. Satoshi là đơn vị nhỏ nhất, bằng một phần trăm triệu BTC. Vbyte đo kích thước giao dịch để tính phí. Độ cao khối cho biết vị trí của một khối trong chuỗi. Số xác nhận cho biết đã có bao nhiêu khối chồng lên giao dịch. EH/s đo sức tính toán của toàn mạng.

Bài này là bảng thuật ngữ có giải thích, tập trung vào các đơn vị và số đo, để bạn đọc tài liệu không bị rối. Bài về cách đếm Bitcoin cơ bản đã có trên trang; ở đây chúng tôi đi rộng hơn sang các đơn vị kỹ thuật. Nội dung là kiến thức, không phải lời khuyên đầu tư.

Đơn vị đo lượng Bitcoin

BTC. Đơn vị phổ biến nhất, một bitcoin. Trong giao thức, mọi số tiền thực ra được lưu dưới dạng số nguyên satoshi.

Satoshi (sat). Phần nhỏ nhất của BTC: 1 BTC bằng 100.000.000 satoshi. Tên đặt theo người tạo ra Bitcoin.

mBTC. Một phần nghìn BTC, tức 100.000 satoshi. Từng được dùng trong một số ví, nay ít gặp hơn.

μBTC hay "bit". Một phần triệu BTC, tức 100 satoshi. Một số người đề xuất dùng cho số nhỏ cho dễ đọc.

Msat (millisatoshi). Một phần nghìn satoshi, chỉ dùng trong mạng Lightning để tính phí định tuyến chính xác; không tồn tại trên chuỗi.

Tổng cung. Tiến tới gần 21 triệu BTC theo lịch phát hành.

Cung lưu hành. Số BTC đã được tạo ra tới thời điểm hiện tại, nhỏ hơn tổng cung.

Bụi (dust). Đầu ra nhỏ tới mức phí để chi tiêu nó còn lớn hơn giá trị của chính nó.

Đầu ra chưa chi (UTXO). Đơn vị "đồng tiền" thật sự trên chuỗi; số dư ví là tổng các UTXO bạn kiểm soát.

Phần thưởng khối. Lượng BTC mới tạo ra trong mỗi khối, hiện là 3,125 BTC sau lần halving năm 2024.

Phí giao dịch. Phần chênh lệch giữa tổng đầu vào và tổng đầu ra của một giao dịch.

Đơn vị đo kích thước và phí

Byte. Đơn vị kích thước dữ liệu thô. Trước SegWit, phí và giới hạn khối tính theo byte.

Đơn vị trọng lượng (weight unit). Sau SegWit, kích thước giao dịch tính theo trọng lượng; dữ liệu chữ ký được tính nhẹ hơn dữ liệu khác.

Vbyte (byte ảo). Bằng trọng lượng chia bốn. Đây là đơn vị ví và trình duyệt khối dùng để hiển thị kích thước giao dịch.

Giới hạn khối. Tối đa 4 triệu đơn vị trọng lượng mỗi khối.

Sat/vB. Phí tính theo satoshi cho mỗi vbyte. Đây là "giá" của không gian khối, quyết định giao dịch nào được ưu tiên.

Phí tuyệt đối. Phí tính bằng satoshi cho cả giao dịch, bằng sat/vB nhân kích thước vbyte.

Phí tối thiểu chuyển tiếp. Mức phí thấp nhất mà các nút mặc định chịu chuyển tiếp giao dịch.

Ước tính phí. Ví dự đoán sat/vB cần thiết để được xác nhận trong một số khối nhất định.

RBF. Thay thế bằng phí cao hơn: gửi lại giao dịch với phí lớn hơn khi bị kẹt.

CPFP. Con trả cho cha: tạo giao dịch con phí cao để kéo giao dịch cha phí thấp vào khối.

Mempool. Vùng chờ của các giao dịch chưa vào khối, thường đo theo tổng vbyte hoặc MB.

Đơn vị đo thời gian và vị trí

Độ cao khối (block height). Số thứ tự của khối, tính từ khối nguyên thuỷ là độ cao 0. Dùng như "đồng hồ" của Bitcoin.

Thời gian khối. Mục tiêu trung bình khoảng 10 phút một khối, nhưng từng khối có thể nhanh hay chậm hơn nhiều.

Xác nhận (confirmation). Giao dịch vào một khối có 1 xác nhận; mỗi khối mới chồng lên thêm 1 xác nhận.

Kỷ nguyên halving. Mỗi 210.000 khối là một kỷ nguyên, phần thưởng giảm một nửa khi sang kỷ nguyên mới.

Chu kỳ điều chỉnh độ khó. Mỗi 2.016 khối, khoảng hai tuần, độ khó được tính lại.

Khoá thời gian (locktime). Điều kiện không cho giao dịch vào khối trước một độ cao hoặc thời điểm nhất định.

Thời gian trung vị quá khứ. Trung vị thời gian của 11 khối trước, dùng để kiểm tra khoá thời gian ổn định hơn.

Độ sâu. Số khối phía trên một khối; càng sâu càng khó bị đảo ngược.

Tổ chức lại chuỗi (reorg). Khi một nhánh dài hơn thay thế vài khối gần nhất.

Khối mồ côi, khối cũ. Khối hợp lệ nhưng không nằm trên chuỗi chính cuối cùng.

Tuổi đầu ra. Số khối kể từ khi một UTXO được tạo, dùng trong một số điều kiện chi tiêu.

Đơn vị đo sức tính toán và độ khó

Hashrate là số lần tính băm mỗi giây mà toàn bộ thợ đào thực hiện. Vì con số rất lớn, người ta dùng tiền tố: TH/s là nghìn tỷ, PH/s là triệu tỷ, EH/s là tỷ tỷ phép băm mỗi giây. Hashrate toàn mạng hiện được đo bằng EH/s.

Hashrate không được đo trực tiếp mà được ước tính từ tốc độ ra khối và độ khó hiện tại. Vì vậy các trang khác nhau có thể đưa con số hơi khác nhau, và con số ngắn hạn dao động mạnh do may rủi trong việc tìm khối.

Độ khó là một con số cho biết việc tìm khối khó tới mức nào so với khối đầu tiên. Nó tự điều chỉnh mỗi 2.016 khối để giữ thời gian khối trung bình gần 10 phút.

Mục tiêu (target) là phiên bản kỹ thuật của độ khó: giá trị băm của khối phải nhỏ hơn mục tiêu. Mục tiêu càng nhỏ, độ khó càng lớn.

Khi đọc tin "hashrate đạt kỷ lục", hãy hiểu đó là mô tả sức tính toán bảo vệ mạng, không phải chỉ báo giá. Không nên suy diễn giá từ hashrate.

Vì sao lại cần nhiều đơn vị như vậy

Mỗi đơn vị phục vụ một nhu cầu khác nhau. BTC tiện để nói về số lượng lớn; satoshi tiện khi nói về phí và số tiền nhỏ, tránh những con số có quá nhiều chữ số không sau dấu phẩy.

Vbyte và đơn vị trọng lượng xuất hiện vì SegWit thay đổi cách tính kích thước giao dịch. Nhờ tính dữ liệu chữ ký nhẹ hơn, giao dịch dùng SegWit tốn ít phí hơn cho cùng lượng dữ liệu.

Độ cao khối được dùng thay thời gian thực vì nó tất định: mọi nút đều đồng ý khối thứ bao nhiêu, trong khi đồng hồ của các máy có thể lệch nhau.

Hashrate và độ khó là hai mặt của cùng một câu chuyện: một bên đo nỗ lực của thợ đào, một bên là thước đo mà giao thức đặt ra để giữ nhịp ra khối ổn định.

Nhầm lẫn giữa các đơn vị, ví dụ giữa sat/vB và sat/byte, hay giữa BTC và mBTC, có thể khiến bạn trả phí sai hoặc gửi sai số tiền. Luôn kiểm tra đơn vị ví đang hiển thị.

Đọc một trang trình duyệt khối cho đúng

Khi mở một giao dịch trên trình duyệt khối, bạn sẽ thấy mã giao dịch, độ cao khối chứa nó, số xác nhận, kích thước theo vbyte, phí tuyệt đối và phí theo sat/vB.

Phần đầu vào cho biết UTXO nào được chi; phần đầu ra cho biết tiền đi tới đâu. Thường có một đầu ra là tiền thừa quay về ví người gửi; trình duyệt không luôn đánh dấu được.

Hãy cẩn thận khi tra cứu: trình duyệt khối của bên thứ ba biết bạn quan tâm tới địa chỉ nào. Nếu quan tâm quyền riêng tư, chạy nút riêng sẽ tốt hơn.

Cũng cần cảnh giác với trang giả mạo trình duyệt khối, được dùng để "chứng minh" một giao dịch không có thật trong các kịch bản lừa.

Hiểu các đơn vị giúp bạn tự đọc dữ liệu, không phải phụ thuộc vào lời giải thích của người khác. Đây là kiến thức, không phải lời khuyên đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

Một satoshi bằng bao nhiêu BTC?

Một satoshi bằng một phần trăm triệu BTC, tức 0,00000001 BTC. Một BTC bằng 100.000.000 satoshi.

Vbyte là gì?

Vbyte là byte ảo, bằng đơn vị trọng lượng chia bốn. Ví và trình duyệt khối dùng vbyte để đo kích thước giao dịch và tính phí.

Sat/vB nghĩa là gì?

Là số satoshi phí trả cho mỗi vbyte. Đây là thước đo giúp so sánh mức ưu tiên giữa các giao dịch.

Bao nhiêu xác nhận là đủ?

Không có con số tuyệt đối; tuỳ giá trị và mức rủi ro chấp nhận được. Nhiều dịch vụ chờ một số xác nhận nhất định trước khi ghi nhận giao dịch.

EH/s có liên quan tới giá Bitcoin không?

EH/s đo sức tính toán của mạng, không phải chỉ báo giá. Không nên suy diễn giá từ hashrate.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.